Sở Thông tin và Truyền thông Kiên Giang

Thời sự

Xem với cỡ chữAA

Nhìn lại hoạt động ngành Thông tin và Truyền thông 05 năm qua

(21:25 | 26/08/2020)

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống ngành Thông tin và Truyền thông (28/8/1945 – 28/8/2020), Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông ông Nguyễn Xuân Kiệm đã chia sẽ với phóng viên về những kết quả đã đạt được trong 05 năm qua.


Công chức, viên chức Sở Thông tin và Truyền thông chụp ảnh lưu niệm với nguyên Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp (thứ tư từ phải qua) nhân chuyến công tác tại tỉnh Kiên Giang.

PV: Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống ngành Thông tin và Truyền thông (28/8/1945 – 28/8/2020) ông có thể cho biết quá trình thành lập diễn ra như thế nào?

Như chúng ta đã biết, ngày 30-9-2004 Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 63/2004/QĐ-UBND thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông Kiên Giang với chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử, internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện và cơ sở hạ tầng thông tin bưu chính, viễn thông; quản lý các dịch vụ công ích về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh; cơ cấu tổ chức gồm: Ban Giám đốc, 05 phòng chuyên môn, nghiệp vụ với biên chế có 17 người.

Ngay từ ngày đầu thành lập, mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, song Sở Bưu chính, Viễn thông từng bước ổn định tổ chức, tiến hành ngay các hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn, điểm nổi bật nhất trong thời điểm này là: Lập quy hoạch phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông huyện đảo Phú Quốc giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020; xây dựng đề án ứng dụng và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006-2010.
Đến năm 2008, thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, ngày 24/3/2008 Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 704/QĐ-UBND thành lập Sở Thông tin và Truyền thông trên cơ sở Sở Bưu chính, Viễn thông; tiếp nhận chức năng, tổ chức quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc và 07 Phòng chức năng với 23 biên chế (gồm 17 biên chế của Sở Bưu chính, Viễn thông và 06 biên chế của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuyển sang); đồng thời, theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng được bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc ngành Thông tin và Truyền thông.

Ngày 24-02-2010, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 560/QĐ-UBND thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Kiên Giang với 15 biên chế.

Ngày 09-12-2019, UBND tỉnh bàn hành Quyết định số 2783/QĐ-UBND về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Kiên Giang, cơ cấu tổ chức gồm: Ban Giám đốc, 04 phòng chuyên môn (biên chế 25 người) và Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông (biên chế 15 người).

PV: Xin ông có thể chia sẽ công tác tham mưu quản lý nhà nước về ngành Thông tin và Truyền thông của tỉnh nhà?

Trong 05 năm qua, Sở Thông tin và Truyền thông luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, của Bộ Thông tin và Truyền thông; sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của các ngành, các cấp; các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp thông tin và truyền thông trong, ngoài tỉnh; đặc biệt là sự đoàn kết, thống nhất từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến hành động thực tiễn; sự nỗ lực, sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức của tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong Sở với quyết tâm luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao; các lĩnh vực bưu chính, viễn thông – Internet phát triển mạnh mẽ đã tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ bản đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế của tỉnh; lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin đã có bước phát triển tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin trong xã hội đang ngày càng phổ biến, những lợi ích đem lại cho xã hội ngày càng lớn. Hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản và phát hành đã có bước chuyển mới đúng định hướng của Đảng, Nhà nước góp phần thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang, hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại, đảm bảo các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tận dụng có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với ngành Thông tin và Truyền thông.

PV: Những con số cụ thể mà ngành đã đạt được trong 05 năm qua?

Về lĩnh vực Thông tin - Báo chí – Xuất bản: Tập trung thực hiện tốt Kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 03/02/2017 của UBND tỉnh thực hiện Đề án của Chính phủ “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí, gắn với nâng cao chất lượng hoạt động đối với các loại hình báo chí tỉnh Kiên Giang đến năm 2025” và Quyết định số 982/QĐ-UBND của UBND tỉnh ngày 27/4/2017 về phê duyệt Đề án “Nâng cấp và phát triển hệ thống truyền thanh cơ sở tỉnh Kiên Giang đến năm 2020”. Hiện toàn tỉnh có 03 cơ quan báo chí (Báo Kiên Giang; Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và Tạp chí Chiêu Anh Các); 15 Đài Truyền thanh cấp huyện; 40 Trạm truyền thanh xã; 01 Cổng thông tin điện tử tỉnh, 45 Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể chính trị tỉnh và các huyện, thành phố, 04 Văn phòng đại diện, 15 phóng viên của các báo trung ương thường trú tại Kiên Giang. Ngoài ra, còn có 15 bản tin và 04 đặc san các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh. Chất lượng nội dung thông tin trên báo, đài ngày càng được nâng lên, phản ánh toàn diện các mặt của đời sống xã hội, góp phần phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, phát triển kinh tế, xã hội tỉnh nhà, định hướng tốt dư luận…

Công tác xuất bản, in, phát hành phát triển, hoạt động đúng quy định pháp luật. Toàn tỉnh có 17 cơ sở phát hành, 01 Xí nghiệp in Hồ Văn Tẩu, bình quân in gần 4 triệu trang/ năm, doanh thu 50 tỷ đồng/năm.

Hoạt động thông tin cơ sở phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến từng người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. 

Hoạt động thông tin đối ngoại, tập trung tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, thành tựu tỉnh Kiên Giang ra ngoài tỉnh, nước ngoài; tổ chức hơn 20 cuộc trưng bày, triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 15 huyện, thành phố và 3 cuộc tại buổi họp mặt kiều bào… thu hút hơn 22.000 lượt người tham quan, tìm hiểu.

Thành lập và đưa vào sử dụng trang Fanpage “Thông tin Kiên Giang” trên Facebook để tuyên truyền, phản bác các thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc về tỉnh Kiên Giang…

Về lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông: Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp phát triển mạng lưới bưu chính, đảm bảo an toàn bưu phẩm, bưu gửi, từng bước tham gia vào hoạt động thương mại điện tử. Toàn tỉnh có 15 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuyển phát bưu chính (tăng 36,4% so năm 2016), 101 bưu cục, 132 điểm Bưu điện - Văn hóa xã; bán kính phục vụ 2,94 km/ điểm. Tổng doanh thu bưu chính ước thực hiện giai đoạn 2016 - 2020 trên 1.027,7 tỷ đồng (giai đoạn 2011 - 2016 là 335,8 tỷ đồng).

Thực hiện tốt Quyết định số 2991/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc phê duyệt Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Toàn tỉnh có 08 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông với tổng số thuê bao điện thoại ước đến năm 2020 là 1.936.755 thuê bao (năm 2016 là 2.064.174 thuê bao, giảm 6,1% do các chính sách quản lý thông tin thuê bao ảo, thông tin không chính xác…); mật độ thuê bao đạt 111,6 thuê bao/100 dân (năm 2016 là 117 thuê bao/100 dân, giảm 4,6%); tổng số thuê bao Internet 269.946 thuê bao (năm 2016 là 141.564 thuê bao, tăng 90,6%). Tổng doanh thu viễn thông ước đạt gần 12.000 tỷ đồng (giai đoạn 2011 - 2016 là 11.500 tỷ đồng).

Về ứng dụng công nghệ thông tin: Tập trung triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động số 64-CTr/TU, ngày 09-9-2015 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01-7-2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Kế hoạch số 13/KH-UBND ngày 29/01/2016 về hành động xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Kiên Giang theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ; Kế hoạch số 84/KH-UBND ngày 22/7/2016 của UBND tỉnh về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016 – 2020; Kế hoạch số 82/KH-UBND ngày 22/5/2019 của UBND tỉnh về hành động thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng 2025, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy, công chức, viên chức, công tác cải các hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp. Cụ thể:

Cổng thông tin điện tử tỉnh (trực thuộc UBND tỉnh, giao Sở Thông tin và Truyền thông quản lý, vận hành) được xây dựng theo mô hình đồng bộ về công nghệ, liên thông dữ liệu, thông tin, gồm Cổng chính và 37 cổng thành phần, trong đó có 22 Cổng thông tin điện tử của các sở, ban, ngành tỉnh và 15 Cổng thông tin điện tử các huyện, thành phố (tăng 50% Cổng thông tin điện tử thành phần). 

Cổng Dịch vụ công (DVC) trực tuyến và hệ thống Một cửa điện tử của tỉnh được cung cấp theo mô hình tập trung tại địa chỉ: dichvucong.kiengiang.gov.vn, cung cấp trực tuyến 2.133 thủ tục (trong đó: mức độ 3: 369 thủ tục, đạt tỷ lệ 18,5%; mức độ 4: 273 thủ tục, đạt tỷ lệ 12,8%); danh mục các thủ tục ưu tiên triển khai được thực hiện đúng theo Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 09/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến ngày 15/7/2020, hệ thống đã tiếp nhận, xử lý trên hệ thống 112.214 hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn là 84,35%. Hoàn tất kết nối liên thông với Cổng dịch vụ công quốc gia (tháng 12/2019) đảm bảo đúng tiến độ và tích hợp với Bộ, ngành, đến tháng 03/2020 đã tích hợp 7 TTHC của Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Bên cạnh đó, hoàn thiện việc tích hợp Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh kết nối liên thông với Ngân hàng VietinBank nhằm đẩy mạnh khi thực hiện TTHC trên Cổng dịch vụ công của tỉnh góp phần thành công giải pháp đẩy mạnh thanh toán trực tuyến không dùng tiền mặt. Cử đầu mối phối hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia thực hiện kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến Cổng dịch vụ công quốc gia.

Phần mềm Quản lý văn bản và hồ sơ công việc, đã thực hiện kết nối, liên thông phần mềm đến tất cả các sở, ngành, đơn vị cấp huyện, cấp xã, đồng thời liên thông trục văn bản quốc gia. Tính đến ngày 15/7/2020, đã có hơn 3.218.442 lượt văn bản điện tử được triển khai thực hiện gửi, nhận trên môi trường mạng.

Hệ thống Thư điện tử công vụ và Chữ ký số được chú trọng thực hiện, có gần 100% cán bộ, công chức được cấp hộp thư công vụ với 5.146 hộp thư (tăng 60% so năm 2016) và 1.070 chữ ký số được cấp (trong đó, có 751 chứng thư số cá nhân và 319 chứng thư số của tổ chức). Ngoài ra, hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập đều sử dụng chữ ký số chuyên dùng của Chính phủ trong giao dịch với Kho bạc, ký ban hành văn bản…

Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh tiếp tục được duy trì và phát huy hiệu quả hoạt động. Trung bình hàng năm hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến thực hiện trên 100 cuộc họp.

Thực hiện thí điểm đề án “Xây dựng đô thị thông minh Phú Quốc” (giai đoạn I) gồm các hạng mục: Chính quyền điện tử; hệ thống mạng không dây thông minh (Smart Wifi); hệ thống Camera giám sát; quản lý lưu trú trực tuyến; giám sát môi trường; quản lý du lịch; Trung tâm điều hành thành phố thông minh. Một số ngành của tỉnh như: Nông nghiệp, y tế, giáo dục – đào tạo… từng bước ứng dụng các phần mềm quản lý, điều hành thông minh.

Đang phối hợp Cục Tin học hóa và đơn vị tư vấn xây dựng dự thảo Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Kiên Giang đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (dự kiến hoàn thành trong tháng 08/2020).

Về xây dựng hạ tầng thông tin đồng bộ và hiện đại: Hạ tầng thông tin khối Đảng được trang bị hệ thống gồm 08 máy chủ, hơn 1.291 máy trạm và các thiết bị mạng, phục vụ việc kết nối trong toàn bộ hệ thống. Hệ thống mạng diện rộng (Lotus Notes) của các cơ quan Đảng, đảm bảo kết nối thông suốt từ Trung ương đến các Đảng ủy xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

Hạ tầng thông tin các cơ quan nhà nước được quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức được trang bị máy tính sử dụng trong công việc đạt 87,7% (tăng 2,7% so năm 2016), đặc biệt tại cấp xã tỷ lệ này đạt 65% (tăng 21% so với năm 2016); 100% cơ quan, đơn vị các cấp triển khai kết nối mạng nội bộ, Internet và mạng diện rộng của tỉnh; tỷ lệ máy tính được kết nối internet tại các cơ quan nhà nước đạt trên 98% (tăng 8,2% so với năm 2016). 

Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin: Thực hiện tốt Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam; Chỉ thị số 04/CT-BTTTT ngày 11/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về tăng cường phòng, chống mã độc và bảo vệ thông tin cá nhân trên không gian mạng; công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin luôn được quan tâm, thường xuyên theo dõi, thực hiện các khuyến cáo về phòng, chống mã độc, virus cho hệ thống máy chủ, máy trạm; triển khai thực hiện kế hoạch công tác bảo đảm an toàn thông tin (ATTT) cho các hệ thống dùng chung của tỉnh. Trung tâm dữ liệu tập trung của tỉnh được đầu tư các thiết bị bảo đảm ATTT như tường lửa (Firewall), thiết bị chủ động phát hiện, cảnh báo và phòng, chống xâm nhập trái phép (IPS, IDS)... và phối hợp với Trung tâm Ứng cứu sự cố máy tính Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội thực hiện tốt việc rà soát, kiểm tra, đánh giá đảm bảo ATTT cho các hệ thống dùng chung phục vụ triển khai Chính quyền điện tử, giám sát an toàn không gian mạng, giám sát thông tin trên internet. Năm 2018, Đoàn công tác 898 của Chính phủ đã tổ chức kiểm tra công tác bảo đảm ATTT, qua kiểm tra đã đánh giá cao công tác bảo đảm ATTT đối với các hệ thống phục vụ triển khai Chính quyền điện tử của tỉnh Kiên Giang.

PV: Ông có thể dự báo hoạt động Thông tin và Truyền thông trong 05 năm tới?

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất nhanh và chuyển sang nền kinh tế số trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của thời đại, xu thế phát triển các siêu đô thị và đô thị thông minh ngày càng gia tăng. Công nghệ thông tin được coi là công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; là một trong những động lực quan trọng trong phát triển nền kinh tế số, xã hội số, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng nước ta; vì vậy, thông tin, tuyên truyền vẫn là phương thức hữu hiệu góp phần bảo vệ hệ tư tưởng và niềm tin của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo đồng thuận, niềm tin xã hội cần được phát huy...

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025

Đảm bảo tự sản xuất chương trình truyền hình và sử dụng chương trình sản xuất trong tỉnh, trong nước đạt tối thiểu 70% thời lượng phát sóng; đầu tư sửa chữa, nâng cấp 24 Trạm truyền thanh xã; đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật để sản xuất chương trình và phát sóng tại 15 Đài Truyền thanh cấp huyện theo lộ trình số hóa; đầu tư mới 05 Trạm truyền thanh tại các Đồn Biên phòng với công nghệ, thiết bị đồng bộ, hiện đại.

Xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông hiện đại, rộng khắp. Hộ gia đình sử dụng internet trên 80%. Triển khai mạng di động 5G phát triển đồng bộ với cả nước.

Hoàn thành cơ bản xây dựng đô thị thông minh Phú Quốc và một số nội dung thông minh của thành phố Hà Tiên và Rạch Giá. 

Đạt 100% cơ quan, đơn vị nhà nước các cấp được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng tốc độ cao, an toàn, bảo mật của Đảng và Nhà nước; 100% cuộc họp giữa cấp tỉnh với cấp huyện, cấp huyện với cấp xã được tổ chức theo hình thức trực tuyến; kết nối Cổng dịch vụ công trực tuyến và hệ thống Một cửa điện tử của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia. Trên 30% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, trên 40% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 được giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính thực hiện trực tuyến… Phấn đấu đưa mức độ ứng dụng CNTT, xây dựng Chính quyền điện tử của tỉnh đứng tốp 20 các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Cuối cùng là tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh triển khai Đề án chuyển đổi số của tỉnh Kiên Giang đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

PV: Xin cám ơn ông!

Uyển Nhi (ghi)