Sở Thông tin và Truyền thông Kiên Giang

Thời sự

Xem với cỡ chữAA

Một số quy định về Luật Tiếp cận thông tin

(15:29 | 12/03/2019)

Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) là một trong những quyền cơ bản, quan trọng của công dân, được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật khác, cũng như trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ngày 06/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật TCTT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Đây là Luật rất quan trọng, là văn bản đầu tiên trong hệ thống pháp luật quy định việc bảo đảm thực hiện quyền TCTT, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quyền TCTT của công dân và nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Luật TCTT quy định về việc thực hiện quyền TCTT của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền TCTT; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền TCTT của công dân. Luật có bố cục gồm 5 chương, 37 điều, với các nội dung quan trọng như sau:


1. Khái niệm thông tin (TT)

TT là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra. Như vậy, TT theo quy định của Luật TCTT không phải là TT nói chung, TT được lưu giữ trong suy nghĩ, TT truyền miệng hay các TT do chủ thể ngoài Nhà nước tạo ra không liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước.


2. Về trách nhiệm cung cấp TT

Luật TCTT quy định các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp TT do mình tạo ra, trừ trường hợp TT công dân không được tiếp cận. 


Trong trường hợp TT do cơ quan nhà nước tạo ra thuộc TT công dân được tiếp cận có điều kiện, thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp TT đó khi có đủ điều kiện theo quy định, điều này áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong Nghị định số 13/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật TCTT, nêu rõ: người đứng đầu cơ quan cung cấp TT có trách nhiệm bố trí địa điểm đọc, nghe, xem, ghi chép, sao chép, chụp TT để cung cấp TT trực tiếp tại trụ sở cơ quan. Như vậy, Luật cho phép người yêu cầu cung cấp TT được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác để sao chụp văn bản, hồ sơ tài liệu. 


3. Những loại TT công dân được tiếp cận

Công dân được tiếp cận tất cả TT của cơ quan nhà nước theo quy định của Luật, trừ TT công dân không được tiếp cận quy định tại Điều 6 và được tiếp cận có điều kiện đối với TT được quy định tại Điều 7 của Luật. 

 


Viện Nghiên cứu Lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp với Chương trình phát triển Liên hợp quốc
tổ chức Hội thảo góp ý xây dựng Luật Tiếp cận thông tin.   Ảnh: TL


4. Những loại TT công dân không được tiếp cận

Theo quy định tại Điều 6 của Luật TCTT, những TT công dân không được tiếp cận bao gồm:


Một là, TT thuộc bí mật nhà nước có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của Luật. Đối với TT thuộc những loại trên, công dân không được tiếp cận, cơ quan nhà nước không công khai TT để công dân tiếp cận hoặc nếu công dân yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp TT thì yêu cầu của công dân sẽ bị từ chối.


Hai là, TT mà nếu tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; TT thuộc bí mật công tác; TT về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Trong trường hợp này, công dân không được TCTT nếu cơ quan nhà nước qua phân tích, đánh giá thấy rằng việc cung cấp TT là có hại đối với các lợi ích hợp pháp mà Nhà nước và pháp luật bảo vệ.


5. TT công dân được tiếp cận có điều kiện

Theo quy định tại Điều 7 của Luật TCTT, thì những loại TT công dân được tiếp cận có điều kiện bao gồm: 


Một là, TT liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh là TT thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. 


Hai là, TT liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý; TT liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý.


Ba là, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan nhà nước quyết định cung cấp TT đối với hai trường hợp trên trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe và cộng đồng theo quy định của pháp luật có liên quan mà không cần có sự đồng ý.

ThS. Cao Văn Học (Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy)